I. Khái quát
1. Tên nước: Nhật Bản (Japan).
2. Quốc khánh: Là ngày sinh nhật Nhà vua (23/02).
3. Thủ đô: Tokyo
4. Đặc điểm địa lý: Quần đảo (gồm 6.852 hòn đảo, trong đó có 4 hòn đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu) nằm ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương, ngoài khơi phía Đông lục địa châu Á. Diện tích 377.944 km2, chủ yếu là đồi núi và rừng rậm (khoảng 73%). Khí hậu ôn đới và cận nhiệt đới, có 4 mùa rõ rệt. Múi giờ: đi trước Việt Nam 02 tiếng đồng hồ.
6. Dân số: 124,50 triệu người (01/01/2024).
7. Dân tộc: 98,5% dân số là thuần Nhật, phần còn lại là dân tộc thiểu số Ainu ở phía Bắc và người nước ngoài.
8. Hành chính: Gồm 47 tỉnh thành. Đồng thời, căn cứ vào địa lý, lịch sử và đặc trưng kinh tế… Nhật Bản thường được chia làm 8 khu vực lớn gồm Hokkaido, vùng Đông Bắc, vùng Kanto, vùng Trung Bộ, vùng Kinki (còn gọi là Kansai), vùng Chugoku, vùng Shikoku và vùng Kyushu-Okinawa.
9. Tôn giáo: Thần đạo (Shinto) thờ các vị Thần là tôn giáo chính, lâu đời nhất ở Nhật Bản; Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ 6, trở nên phổ biến; Thiên Chúa giáo, du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ 16. Ngoài ra, có nhiều tôn giáo mới ra đời trong thời gian gần đây có số lượng hội viên khá đông như Soka Gakkai (Sáng Giá Học Hội), Tenrikyo (Thiên Lý Giáo), Shinrikyo (Chân Lý Giáo)… Người Nhật Bản có thể theo nhiều tôn giáo khác nhau.
10. Ngôn ngữ: Tiếng Nhật Bản, chịu ảnh hưởng của chữ Hán, hiện vẫn sử dụng Hán tự kết hợp với chữ viết riêng của Nhật Bản.
11. Khí hậu: Nhật Bản thuộc vùng khí hậu ôn đới, có 4 mùa rõ rệt. Mùa Xuân từ tháng 3-5, thời tiết thoáng mát, dễ chịu, có hoa anh đào nở (cuối tháng 3, đầu tháng 4). Mùa hè từ tháng 6-8, thời tiết nóng, oi bức. Mùa thu từ tháng 9-11, thời tiết thoáng mát, một chút se lạnh, có lá đỏ (từ cuối tháng 10, đến giữa tháng 11). Mùa đông từ tháng 12-2, thời tiết lạnh, thường có tuyết rơi, nhất là vùng núi.
12. Tiền tệ: Yên
13. GDP: Khoảng 4000 tỷ USD (năm 2024); GDP bình quân đầu người: hơn 30.000 USD.
14. Chế độ chính trị:
- Nền quân chủ lập hiến, trong đó Nhà vua là Nguyên thủ Quốc gia mang tính biểu tượng của đất nước và sự đoàn kết dân tộc. Quyền lực hành pháp thực tế thuộc Chính phủ.
- Nhà nước Nhật Bản được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập.
+ Lập pháp - Quốc hội: gồm Thượng viện và Hạ viện
Hạ viện có 465 ghế với nhiệm kỳ 4 năm; có nhiều quyền lực hơn Thượng viện.
Thượng viện có 246 ghế với nhiệm kỳ 6 năm và cứ 3 năm bầu lại một nửa số ghế.
+ Hành pháp - Chính phủ: đứng đầu là Thủ tướng, được Nhà vua bổ nhiệm theo chỉ định của Quốc hội. Thủ tướng bổ nhiệm các Bộ trưởng. Chính phủ hiện nay là Chính phủ liên minh giữa Đảng Dân chủ Tự do (LDP) và Đảng Duy tân Nhật Bản.
+ Tư pháp - Hệ thống Tòa án: đứng đầu là Tòa án tối cao. Thẩm phán Tòa án tối cao được Nhà vua bổ nhiệm theo đề cử của Chính phủ.
- Có 13 chính Đảng tại Hạ viện và Thượng viện, gồm: Đảng Tự do Dân chủ (LDP) (316/465 ghế tại Hạ viện và 101/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Duy tân Nhật Bản (36/465 ghế tại Hạ viện và 19/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Liên minh Cải cách trung dung (49/465 ghế tại Hạ viện), Đảng Dân chủ Quốc dân (28/465 ghế tại Hạ viện và 25/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Sanseito (15/465 ghế tại Hạ viện và 15/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Team Mirai (11/465 ghế tại Hạ viện và 2/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Cộng sản Nhật Bản (4/465 ghế tại Hạ viện và 7/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Dân chủ lập hiến (40/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Công minh (21/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Reiwa Shinsenkumi (5/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Bảo thủ (02/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Dân chủ xã hội (2/248 ghế tại Thượng viện), Đảng Làn gió Okinawa (2/248 ghế tại Thượng viện).
Đảng cầm quyền hiện nay là Đảng LDP, liên minh với Đảng Duy tân Nhật Bản (từ ngày 21/10/2025). Tại bầu cử Hạ viện ngày 08/2/2026, Liên minh cầm quyền LDP - Duy tân Nhật Bản đã giành thắng lợi lớn, hiện kiểm soát ¾ số ghế tại Hạ viện, tuy nhiên không nắm quyền kiểm soát Thượng viện.
Lãnh đạo LDP gồm: Chủ tịch Đảng (đồng thời là Thủ tướng), Phó Chủ tịch Đảng (mang tính danh dự), Tổng thư ký Đảng (điều hành), Trưởng Ban Tổng hợp, Trưởng Ban nghiên cứu chính sách,…
15. Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
- Nhà vua Naruhito (lên ngôi ngày 01/5/2019; niên hiệu là Lệnh Hòa).
- Thủ tướng Takaichi Sanae (Ta-ca-i-chi Sa-na-ê) (Đảng LDP), từ ngày 21/10/2025 (Thủ tướng thứ 104, 105 và là Thủ tướng nữ đầu tiên của Nhật Bản).
- Chủ tịch Hạ viện Mori Eisuke (Mô-ri Ê-xư-kê) (Đảng LDP), từ ngày 08/02/2026.
- Chủ tịch Thượng viện Sekiguchi Masakazu (Xê-ki-gư-chi Ma-xa-ca-dư) (Đảng LDP) từ ngày 11/11/2024.
- Ngoại trưởng Motegi Toshimitsu (Mô-tê-gi Tô-si-mi-chư) (Đảng LDP), từ ngày 21/10/2025.
II. Một số nét đặc trưng về văn hóa, tập quán của Nhật Bản và các lưu ý trong tiếp xúc
- Chế độ chính trị của Nhật Bản là quân chủ lập hiến, Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập. Theo hiến pháp Nhật Bản, Hoàng gia mang tính biểu tượng, không tham gia điều hành đất nước và các hoạt động chính trị, không có các phát ngôn có tính chính trị, nên trong tiếp xúc với thành viên Hoàng gia, cần tránh nêu các nội dung về chính trị, kinh tế, tập trung vào các nội dung lịch sử, văn hóa, xã hội.
- Nhật Bản là đất nước có truyền thống văn hoá lâu đời và rất đặc sắc như nghệ thuật cắm hoa (ikebana), trà đạo (sado), thư pháp (shodo), đấu vật (sumo)... Người dân Nhật Bản giàu lòng mến khách nhưng không quá vồ vập, mà vẫn giữ đúng nghi lễ; coi trọng lễ nghĩa, những cử chỉ lịch sự. Trong giao tiếp, người Nhật Bản rất tinh tế, thường truyền đạt suy nghĩ, ý kiến của mình một cách khéo léo, không nói thẳng những vấn đề nhậy cảm, dễ làm tổn thương người khác.
- Nhật Bản có nhiều tôn giáo như thần đạo, phật giáo, thiên chúa giáo..., Trong đó, thần đạo và phật giáo là hai tôn giáo phổ biến nhất, nên người Nhật Bản cũng coi trọng tâm linh, nhưng không mê tín dị đoan.
- Trong sinh hoạt tại Nhật Bản, cần lưu ý đúng giờ, giữ lời hứa, văn hóa xếp hàng, không đi giày, dép trong nhà, giữ vệ sinh nơi công cộng, không nói, cười to nơi đông người, đưa và nhận đồ bằng hai tay…
III. Chính sách kinh tế
Là quốc gia nghèo tài nguyên, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản trải qua các giai đoạn: nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973), tăng trưởng chậm lại (1974-1990) và trì trệ (từ 1991 đến nay). Hiện tại Nhật Bản là cường quốc kinh tế thứ 4 thế giới.
Thủ tướng Takaichi Sanae chủ trương xây dựng “nền kinh tế mạnh”, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế thông qua việc triển khai “chính sách tài khóa tích cực và có trách nhiệm” nhằm ứng phó vật giá tăng, thúc đẩy đầu tư tăng trưởng, nhất là các lĩnh vực then chốt (AI, chất bán dẫn, công nghệ sinh học, phát triển điện nguyên tử, an ninh lương thực, y tế, chăm sóc sức khỏe,…).
IV. Chính sách quốc phòng - an ninh
Nhật Bản chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng. Nhật Bản đã tạo bước chuyển lịch sử kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 với việc công bố 03 văn kiện sửa đổi quan trọng về quốc phòng là “Chiến lược an ninh quốc gia”, “Chiến lược phòng vệ quốc gia” và “Kế hoạch trang bị phòng vệ”, trong đó lần đầu tiên nêu rõ Nhật Bản cần sở hữu năng lực phản công; tăng ngân sách quốc phòng từ mức khoảng 1% lên mức 2% GDP (320 tỷ USD giai đoạn 2023-2027; ngân sách năm 2027 ước tính 8.900 tỷ yên - gấp 1,5 lần năm 2022), đưa Nhật Bản trở thành nước có ngân sách quốc phòng lớn thứ ba thế giới.
V. Chính sách đối ngoại
Thủ tướng Takaichi Sanae tiếp tục coi đồng minh Nhật - Mỹ là trục chính trong chính sách ngoại giao - an ninh; chú trọng nâng cao năng lực ngoại giao và quốc phòng; thúc đẩy thực hiện Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP).
VI. Quan hệ với Việt Nam
1. Giao lưu lịch sử
- Thế kỷ 8: Nhà sư Phật Triết của Lâm Ấp (nay là miền Trung Việt Nam) đã tới Nara, kinh đô Nhật Bản, giao lưu phật giáo, âm nhạc tại chùa Đại An. Qua đó, Nhà sư Phật Triết đã giới thiệu âm nhạc Lâm Ấp, đến nay vẫn được biểu diễn trong những nhạc khúc của nhã nhạc Nhật Bản, với sự đồng điều về thanh âm với nhã nhạc cung đình Huế.
- Thế kỷ 17: Nhiều thương thuyền (Châu Ấn Thuyền) của Nhật Bản đã cập cảng Hội An và tại đây, người Nhật Bản đã tổ chức giao lưu, buôn bán và lập ra khu phố của người Nhật Bản. Trong số đó, có thương nhân Araki Sotaro, người kết hôn và đưa công chúa Ngọc Hoa (con gái của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) về sống tại Nagasaki, Nhật Bản.
- Đầu thế kỷ 20: Tháng 01/1905, nhà cách mạng Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du, đưa khoảng 200 thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản học tập, nhận được sự hỗ trợ của một số nhân vật của Nhật Bản, đặc biệt là sự giúp đỡ quý báu của bác sỹ Asaba Sakitaro trong thời điểm khó khăn nhất.
2. Khuôn khổ quan hệ Ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản
- Ngày 21/9/1973, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp Võ Văn Sung và Đại sứ Nhật Bản tại Pháp Nakayama Yoshihiro ký công hàm trao đổi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản.
- Việt Nam và Nhật Bản đã lần lượt xác lập khuôn khổ quan hệ từ Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài năm 2002 lên Đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở Châu Á năm 2009, Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở Châu Á năm 2014 và Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới ngày 27/11/2023.
- Hai bên đặt các cơ quan đại diện ngoại giao: Tại Việt Nam: Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại Tp. Hồ Chí Minh, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại Đà Nẵng. Tại Nhật Bản: Đại sứ quán Việt Nam tại Tokyo (1975), Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka (3/1997), Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka (4/2009).
3. Các giai đoạn chính trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản
3.1. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 đến khi Nhật Bản mở lại viện trợ cho Việt Nam năm 1992:
Trong giai đoạn này, quan hệ song phương khá khiêm tốn, các hoạt động trao đổi cấp cao không nhiều, hợp tác kinh tế và các lĩnh vực khác hạn chế. Nội dung hợp tác chủ yếu là: Nhật Bản cung cấp một số khoản viện trợ không hoàn lại quy mô nhỏ cho Việt Nam; hoạt động thương mại chủ yếu thông qua một số tập đoạn thương mại Nhật Bản như Marubeni, Itochu… (Việt Nam nhập máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu sản xuất, hàng tiêu dùng. Nhật Bản nhập khẩu than đá, nông sản).
Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới mở cửa kinh tế, triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, quan hệ giữa hai bên có chuyển biến tích cực, trước hết ở lĩnh vực kinh tế, đặt ra nhu cầu thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực.
3.2. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản từ khi nối lại viện trợ năm 1992 đến năm 2009:
Tháng 11/1992, Nhật Bản mở lại viện trợ ODA cho Việt Nam, mở ra chương mới cho quan hệ hai nước. Nhiều cơ chế hợp tác được thành lập và triển khai hiệu quả, tiêu biểu là cơ chế họp Ủy ban hợp tác Việt Nam - Nhật Bản do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước làm đồng Chủ tịch.
3.3. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản từ 2009 đến nay:
- Quan hệ hai nước tiếp tục có tiến triển vượt bậc. Tin cậy chính trị được tăng cường, giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp được đẩy mạnh trên các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Đặc biệt, Thủ tướng Shinzo Abe (1/2013) và Thủ tướng Suga Yoshihide (10/2020) đã chọn Việt Nam là nước đầu tiên đi thăm sau khi nhậm chức, Lãnh đạo cấp cao Việt Nam chọn Nhật Bản là nơi thường xuyên đi thăm hàng năm.
- Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Hợp tác địa phương, văn hóa, kết nối nguồn nhân lực và giao lưu nhân dân giữa hai nước ngày càng mật thiết và hiệu quả.
Nhật Bản là nước G7 đầu tiên đón Tổng Bí thư Việt Nam đi thăm (năm 1995), nước G7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam (năm 2009), nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011), nước G7 đầu tiên 02 lần mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (5/2016, 5/2023).
4. Giao lưu, trao đổi đoàn Việt Nam - Nhật Bản
Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, cụ thể:
Lãnh đạo Nhật Bản thăm Việt Nam: Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam tổng cộng 13 lần; Chủ tịch Hạ viện thăm Việt Nam tháng 01/2002 và tháng 5/2017; Chủ tịch Thượng viện thăm tháng 12/2015 và tháng 9/2023.
Nhà vua Akihito và Hoàng hậu (đã thoái vị, hiện là Thượng Hoàng) thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 28/02 - 5/3/2017. Hoàng Thái tử Naruhito (Nhà vua hiện nay) thăm chính thức Việt Nam tháng 2/2009. Hoàng tử Akishino (Hoàng Thái tử hiện nay) thăm chính thức Việt Nam tháng 6/1999 và thăm với tư cách cá nhân tháng 8/2012; sau khi trở thành Hoàng Thái tử cùng Công nương thăm chính thức Việt Nam tháng 9/2023.
Lãnh đạo Việt Nam thăm Nhật Bản: Tổng Bí thư ta thăm Nhật Bản 04 lần; Chủ tịch nước thăm Nhật Bản 04 lần; Thủ tướng Chính phủ thăm Nhật Bản 21 lần, trong đó Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm 03 lần; Chủ tịch Quốc hội thăm Nhật Bản 05 lần.
5. Các cơ chế hợp tác quan trọng giữa Việt Nam - Nhật Bản
Ủy ban Hợp tác Việt - Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch (từ 2007, đã họp 12 lần); Ủy ban hỗn hợp về thương mại, năng lượng và công nghiệp (từ 2015); Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản; Đối thoại Nông nghiệp cấp Bộ trưởng (từ 2014); Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản về ngoại giao - an ninh - quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao (từ 2010, đã họp 08 lần) được nâng cấp lên Đối thoại 2+2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (từ tháng 12/2025); Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt - Nhật cấp Thứ trưởng (từ 2012); Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng (từ 2013).
6. Hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Nhật Bản là nước tài trợ ODA và là đối tác hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư số 3, đối tác du lịch và thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.
Về thương mại: Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999. Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản luôn tăng trưởng ổn định, cân bằng, hiện đạt khoảng 52 tỷ USD (năm 2025), tăng gấp đôi so với năm 2014 (27,4 tỷ USD). Trong năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai nước đạt 52 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2024. (Nguồn: Bộ Công Thương)
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản: thủy sản, quần áo, giày dép, thiết bị điện/cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa,…
Các mặt hàng chủ yếu nhập từ Nhật Bản: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép, linh kiện ô tô, hóa chất,…
Về đầu tư trực tiếp (FDI): Tính lũy kế đến ngày 31/01/2026, Nhật Bản có 5722 dự án đầu tư có hiệu lực tại Việt Nam với tổng mức đầu tư đạt 78,9 tỷ USD, đứng thứ 3/153 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam (sau Hàn Quốc, Singapore). (Nguồn: Bộ Tài chính).
Tính lũy kế đến ngày 31/01/2026, Việt Nam có 132 dự án đầu tư sang Nhật Bản với tổng vốn đăng ký đạt 47,2 triệu USD, chiếm 0,2% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài lũy kế của Việt Nam, đứng thứ 33/85 quốc gia và vùng lãnh thổ mà Việt Nam đầu tư ra nước ngoài (chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí, nước, điều hòa, bất động sản,…). (Nguồn: Bộ Tài chính)
Về viện trợ phát triển chính thức ODA: Nhật Bản là nước cung cấp vốn vay bằng đồng Yên cho Việt Nam lớn nhất, tổng giá trị vay tính đến hết năm tài khóa 2025 là khoảng 2.550 tỷ Yên (tương đương hơn 23 tỷ USD), chiếm hơn 26% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ. (Nguồn: Bộ Tài chính).
7. Các lĩnh vực khác
Hợp tác nông nghiệp: Hai bên đã ký kết và triển khai Tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản (9/2015, ký sửa đổi tháng 5/2018, nhất trí triển khai giai đoạn hai 2020-2024 vào tháng 12/2020).
Hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất với việc Nhật Bản liên tục cung cấp ODA những năm gần đây cho các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam.
Hợp tác lao động: Hai bên đã ký (i) Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý của Việt Nam; (ii) Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng (6/2017); (iii) Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ Lao động kỹ năng đặc định (5/2019). Việt Nam là quốc gia phái cử nhiều nhất trong tổng số 15 quốc gia tham gia phái cử lao động sang Nhật Bản (khoảng 310.000 người, đứng thứ nhất).
Hợp tác giáo dục: Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới chính thức đưa tiếng Nhật vào giảng dạy ở bậc trung học cơ sở từ năm 2003, tiểu học từ năm 2019. Nhật Bản là một trong những nước viện trợ lớn nhất cho ngành giáo dục - đào tạo của Việt Nam thông qua các chương trình viện trợ ODA. Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác trong lĩnh vực này. Số lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản hiện đạt hơn 51.000 người. Nhật Bản đã hỗ trợ nâng cấp 04 trường đại học của Việt Nam đạt đại học chất lượng cao; đang hợp tác xây dựng Trường Đại học Việt - Nhật nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý và dịch vụ.
Hợp tác địa phương hai nước: được thúc đẩy mạnh mẽ, địa phương của Việt Nam và Nhật Bản đã ký hơn 110 văn bản hợp tác, trong đó các cặp quan hệ tiêu biểu có Tp. Hồ Chí Minh với Osaka (2007), Nagano (2017), Hà Nội với Fukuoka (2008), Tokyo (2013), Đà Nẵng với Sakai (2009), Yokohama (2013), Phú Thọ - Nara (2014), Huế - Kyoto (2014), Hưng Yên - Kanagawa (2015), Hải Phòng - Niigata (2015),...
Hợp tác trong lĩnh vực mới: hợp tác trong lĩnh vực mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, AI, bán dẫn,… ngày càng được chú trọng thúc đẩy. Hai bên đã thống nhất được danh mục 15 dự án với tổng số vốn khoảng 20 tỷ USD ưu tiên triển khai trong lĩnh vực năng lượng xanh, trong đó một số dự án đã được triển khai như các dự án hợp tác xây dựng nhà máy điện, khí hóa lỏng (LNG) tại Thái Bình, Nghi Sơn, Nhà máy phát điện sinh khối tại Yên Bái,…
Hợp tác du lịch: Hai bên đã ký Tuyên bố chung hợp tác du lịch Việt Nam-Nhật Bản (2025); thiết lập Ủy ban hợp tác du lịch Việt Nam-Nhật Bản từ năm 2005 và tổ chức họp 02 năm/lần. Trao đổi khách năm 2025: khách Nhật Bản đến Việt Nam đạt hơn 810.000 lượt, khách Việt Nam đến Nhật Bản đạt khoảng 680.000 lượt người. (Nguồn: Cục Du lịch quốc gia Việt Nam)
8. Tình hình cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản
Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản đạt hơn 670.000 người (đứng thứ 2 sau Trung Quốc). Người Việt Nam hiện sinh sống, làm việc và học tập trên khắp 47 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Nhật Bản, trong đó chủ yếu tập trung tại tỉnh Aichi (hơn 40.000 người), Tokyo (hơn 36.000 người) và các tỉnh Osaka (hơn 35.000 người), Saitama (gần 26.000 người), Chiba (khoảng 20.000 người), khu vực Kyushu khoảng 62.000 người (Fukuoka khoảng 20.000 người). Hiện có trên 40 hội đoàn người Việt Nam tại Nhật Bản.
9. Thị thực cho công dân hai nước
- Ngày 8/3/2005, hai bên đã trao đổi Công hàm miễn thị thực nhập cảnh cho công dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản mang Hộ chiếu ngoại giao và công vụ trong thời hạn lưu trú không quá 90 ngày bắt đầu thực hiện từ 01/5/2005.
- Từ ngày 1/1/2004, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho người Nhật Bản đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và từ ngày 01/7/2004 miễn thị thực nhập cảnh ngắn hạn cho mọi công dân mang hộ chiếu Nhật Bản.
- Ngày 07/3/2023, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP về việc miễn thị thực cho công dân 12 quốc gia trong đó có Nhật Bản với thời hạn lưu trú 45 ngày kể từ ngày nhập cảnh (có hiệu lực từ ngày 15/8/2023).
- Nhật Bản bắt đầu thực hiện việc nới lỏng quy chế cấp thị thực nhiều lần (từ ngày 30/9/2014 và nới lỏng hơn từ ngày 15/02/2016) và thị thực một lần (từ 20/11/2014) cho công dân Việt Nam; đơn giản hóa thủ tục xin visa ngắn hạn dành cho người có vị trí trong xã hội (cán bộ, công chức cơ quan nhà nước, nhân viên doanh nghiệp tư nhân, nhà tri thức - văn hóa) từ ngày 01/3/2019; từ ngày 01/11/2023, cấp visa điện tử cho khách du lịch Việt Nam đi theo đoàn của các công ty du lịch được chỉ định./.
Tháng 3/2026